Trang chủ | Giáo dục | Giáo trình | BÀI 1: LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI (PHẦN CUỐI)

BÀI 1: LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI (PHẦN CUỐI)

Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con xin cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn. Ngài là vầng trăng sáng, soi đường chúng con đi trong đêm tối vô minh. Chúng con nguyện tinh tấn, noi theo gương hạnh của Ngài, để tu tập theo chánh pháp, đem nguồn an vui đến với tất cả chúng sanh.

I. BÀI HỌC

Trong suốt 49 năm hành đạo, đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sanh mà chia làm 5 thời thuyết pháp: Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa - Niết Bàn. Đến 80 tuổi, khi nhân duyên đã hoàn mãn, Ngài thị tịch tại rừng Sa La thuộc thành Câu Thi Na.

1. Năm thời nói Kinh

Trước nói Hoa Nghiêm hai mốt ngày
A Hàm mười hai, Phương Ðẳng tám
Hai mươi hai năm nói Bát Nhã
Pháp Hoa, Niết Bàn cộng tám năm.

a. Thời thứ nhất: Phật nói Kinh Hoa Nghiêm

Sau khi thành đạo, Đức Phật nói Kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngày. Ngài chỉ rõ chỗ cao siêu, rốt ráo của sự tu tập, với mục đích dẫn dắt các vị Bồ tát lên quả vị Đẳng giác và Diệu giác.

b. Thời thứ hai: Phật nói Kinh A Hàm

Kinh A Hàm được Đức Phật giảng dạy trong 12 năm, dùng thí dụ thực tế, chỉ rõ chân lý để cho chúng sanh tự tu, tự độ.

c. Thời thứ ba: Phật nói Kinh Phương Ðẳng

Đức Phật nói Kinh Phương Ðẳng trong 8 năm, chỉ bày phương pháp tự giác, giác tha, dẫn dắt chúng sanh đi từ Tiểu thừa lên Ðại thừa.

d. Thời thứ tư: Phật nói Kinh Bát Nhã

Để giúp chúng sanh tiến xa hơn nữa, Đức Phật tiếp tục nói Kinh Bát Nhã trong 22 năm. Ngài dạy về tánh không của vạn pháp, thuyết minh cái thật tướng, vô tướng sâu xa khó nhận.

e. Thời thứ năm: Phật nói Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn

Đức Phật thị hiện ra đời vì một nguyên nhân lớn: “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến.” Do đó, 8 năm cuối, Ngài nói Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn, thọ ký cho các đệ tử tương lai sẽ thành Phật.

2. Đức Phật hóa độ viên mãn và nhập Niết bàn

a. Những lời dạy sau cùng của Đức Phật

- Trước khi nhập Niết bàn, Đức Phật đi khắp nơi khuyến khích đệ tử nỗ lực tu tập.

- Những lời dạy sau cùng của Ngài được ghi lại trong Kinh Di Giáo.

- Đức Phật dạy chúng Tăng hãy thay Ngài truyền bá đạo giải thoát: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp, đừng thắp lên với một pháp nào khác; hãy tự nương tựa nơi chính mình, nương tựa với chánh pháp, đừng nương tựa với một pháp nào khác.”

- Lời dạy cuối cùng của Đức Phật là: “Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hỡi những người rất thân yêu của ta.”

1a.

b. Đức Phật nhập Niết bàn

- Sau 49 năm hoằng pháp độ sanh viên mãn, Phật tuyên bố 3 tháng sau sẽ nhập Niết Bàn.

- Phật nhận bữa ăn cuối cùng do ông Thuần Đà cúng dường. Sau đó, Ngài đến rừng Sa La tại thành Câu Thi Na, thuyết pháp độ vị đệ tử cuối cùng là Tu Bạt Đà La.

- Ngài gọi đệ tử lại và dặn dò lần cuối:

+ Y bát của Ngài truyền cho Đại Ca Diếp.

+ Xá lợi của Ngài chia làm ba phần: cho Thiên cung, Long cung, và 8 vị quốc vương ở Ấn Ðộ.

- Ngày 15 tháng 2 âm lịch (năm 544 trước công nguyên), Phật nhập Niết bàn giữa hai cây Sa La.

 1.

3. Kết luận

Đức Phật ra đời là sự thị hiện cao quý và đầy đủ ý nghĩa nhất trong các sự thị thiện. Sự hy sinh cao cả, lòng từ bi rộng lớn, trí tuệ sáng suốt, ý chí dũng mãnh của Ngài không những là tấm gương sáng cho riêng hàng Phật tử, mà còn cho tất cả chúng sanh noi theo.

II. LỜI KHN NGUYN

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con xin cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn. Ngài là vầng trăng sáng, soi đường chúng con đi trong đêm tối vô minh. Chúng con nguyện tinh tấn, noi theo gương hạnh của Ngài, để tu tập theo chánh pháp, đem nguồn an vui đến với tất cả chúng sanh.

III. CÂU HỎI ÔN TẬP

1. Cho biết 5 thời kinh mà Đức Phật đã nói?

2. Những lời dạy sau cùng của Đức Phật?

3. Đức Phật nhập Niết bàn ở đâu? Y bát của Ngài được truyền cho ai?

4. Xá lợi của Đức Phật được phân chia như thế nào?

4. Bạn có cảm tưởng gì về cuộc đời Đức Phật?

5. Bạn nghĩ gì về lời dạy cuối cùng của Đức Phật: “Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hỡi những người rất thân yêu của ta.”

IV. HƯƠNG VỊ CUỘC SÔNG

 PHẬT GIÁO HÓA TỲ KHEO CHÂU LỢI BÀN ĐẶC


Thuở đức Phật còn tại thế, có một thầy Tỳ Kheo tên là Châu Lợi Bàn Đặc. Tuy được được gia nhập Tăng đoàn và thọ giới, nhưng đầu óc ông ta rất u tối, suốt bốn tháng trời cũng không thuộc nổi bài kệ:

Như hoa sen thắm đượm,
Tròn nở sáng tinh sương,
Ngào ngạt trinh nguyên hương,
Kìa, xin mời chiêm ngưỡng,
Ðấng Thế Tôn chói lọi,
Như mặt trời tầng không.

Mắc quả báo như thế là vì vào thời Phật Ca Diếp, Châu Lợi Bàn Đặc rất thông minh, nhưng khi vào Tăng chúng, ông đã chế nhạo và đùa cợt một tỳ kheo kém trí. Vị này vì bị làm trò cười nên không học thuộc, thậm chí không lặp lại được lời kinh. Do quả báo này ông tái sanh thành người đần độn. Vừa học xong một câu sau thì câu trước đã quên mất. Bốn tháng trôi qua, ông vẫn không thuộc nổi bài kệ.  

Châu Lợi Bàn Đặc cảm thấy rất buồn, nghĩ mình không thể tu tập nên quyết định rời Tăng đoàn, về nhà. Sáng hôm sau ông rời tinh xá rất sớm. Thế Tôn quan sát, biết rõ việc này, bèn đến trước cổng chờ Châu Lợi Bàn Đặc. 

Khi ông đến, thấy Phật bèn đảnh lễ. Ðược Phật hỏi ông đi đâu vào giờ này, ông kể tự sự, Phật bảo ông:

- Chính Ta thu nhận ông vào Tăng đoàn. Nay ta không đuổi, cớ sao ông lại bỏ đi? Hãy ở lại với Ta.

Phật xoa đầu ông, với lòng bàn tay mang đường chỉ bánh xe pháp, và dẫn ông đến ngồi cạnh hương thất. Xong, Ngài dùng thần lực tạo ra một miếng vải thật sạch đưa cho ông, bảo:

- Châu Lợi Bàn Đặc, ông hãy ngồi tại đây, quay mặt về hướng đông, vừa lau khăn này vừa nói: “Tẩy sạch dơ bẩn, tẩy sạch dơ bẩn!”

Châu Lợi Bàn Đặc vâng lời Thế Tôn, vừa lau tay vào miếng vải vừa bảo: “Tẩy sạch dơ bẩn, tầy sạch dơ bẩn!”. Chiếc khăn ban đầu sạch, bây giờ nhớp nhúa. Từ đó ông nhận ra, vì thân này mà khăn đã mất hết sự sạch sẽ tinh khiết ban đầu và trở thành nhiễm ô cáu bẩn, nên thốt lên: “Các pháp là vô thường”, và chuyên chú vào kiến giải sinh diệt này, ông khai mở tuệ giác.

 Ðấng đạo sư biết ông đã khai mở tuệ giác liền bảo: “Châu Lợi Bàn Đặc, đừng nghĩ rằng chỉ mảnh vải ấy trở thành cáu bẩn mà ngay trong tâm ông tham ái, bất tịnh và những cấu uế khác cũng đầy rẫy; ông hãy tẩy sạch chúng.” Rồi Ngài phóng hào quang hiện thân đến ngồi trước mặt ông đọc Pháp Cú:

Tham ô nhiễm, chẳng phải là bụi bẩn
Ô nhiễm chính dùng để chỉ lòng tham
Các Tỳ kheo, hãy tẩy sạch tham lam
Và sống đúng giáo pháp bậc vô nhiễm.
Sân ô nhiễm, chẳng phải là bụi bẩn
Ô nhiễm chính để dùng chỉ hận sân
Các Tỳ kheo, hãy tẩy sạch lòng sân
Và sống đúng giáp pháp bậc vô hận.
Si ô nhiễm, chẳng phải là bụi bẩn
Ô nhiễm chính dùng để chỉ ám si
Các Tỳ kheo, hãy tẩy sạch si đi
Giáo pháp bậc không si, nên theo đúng.

Dứt bài kệ, Châu Lợi Bàn Đặc chứng A La Hán và các thứ thần thông, ông thông suốt cả ba tạng kinh điển.

 

Thêm vào: Add to your del.icio.us del.icio.us | Digg this story Digg

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi):

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn comment


Điều chỉnh kiểu gõ: Tự động TELEX VNI Tắt

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Các bài viết khác :

  • email Gửi email tới bạn bè
  • print Phiên bản in
  • Plain text Plain text

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đánh giá bài viết này

0
avatar nhi vào lúc 02/04/2012 08:22:44