Trang chủ | Giáo dục | Giáo trình | BÀI 6: BỐN TÂM VÔ LƯỢNG

BÀI 6: BỐN TÂM VÔ LƯỢNG

Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn! Ngài đã ban cho con bốn cánh hoa ưu đàm thật tuyệt diệu, như bốn đóa hoa hạnh phúc hiện hữu giữa đời thường mà con hằng quên lãng. Qua đây, con hiểu được giá trị của tâm yêu thương, hòa đồng, tha thứ. Con nguyện thực hành Bốn Tâm Vô Lượng này và chia sẻ với tất cả mọi người để cùng được lợi ích.

I.      BÀI HỌC

1.           Định nghĩa

- Bốn Tâm Vô Lượng hay còn gọi là Tứ Vô Lượng Tâm, gồm: Từ, Bi, Hỷ và Xả. Đây là bốn tâm rộng lớn, không thể đo lường, giúp chúng ta bỏ đi tính hẹp hòi, ích kỷ,… xây dựng tình thương bao la, để đem an vui đến muôn loài.

2.           Thành phần của Bốn Tâm Vô Lượng

a.     Từ

-         Từ là lòng thương yêu chúng sanh, mang lại niềm vui cho mọi người.

-         Tâm Từ Vô Lượng: là tình thương cao thượng, trải rộng cùng khắp. Niềm vui mà Tâm Từ Vô Lượng mang lại là chân thật, bình đẳng và  không ích kỷ.

b.     Bi

-         Bi là lòng thương trước nỗi đau khổ của chúng sanh và giúp họ dứt trừ những đau khổ ấy.

-         Tâm Bi Vô Lượng: là lòng thương xót chúng sanh vô hạn, không ngừng cứu giúp họ vượt qua nỗi khổ niềm đau.

* Từ Bi của đạo Phật mang ý nghĩa “ban vui, cứu khổ”, là những việc làm hữu ích, giúp chúng sanh đời này và đời sau luôn được an lạc.

c.     Hỷ

-         Hỷ là tâm an lạc và vui theo niềm vui của tất cả chúng sanh.

-         Tâm Hỷ Vô Lượng: là tâm hoan hỷ vô biên, hoan hỷ với mọi người, mọi loài. Niềm vui này do tu tập mà đạt được.

d.     Xả

-         Xả là tâm không vướng mắc, không cố chấp vào bất cứ việc gì.

-         Tâm Xả Vô Lượng: là buông bỏ tất cả như đối với của cải vật chất thì đem bố thí, đối với thành công không tự mãn, đối với mọi người không thù hận, mà biết thương yêu, tha thứ lỗi lầm, v.v…

3.           Lợi ích của Bốn Tâm Vô Lượng

- Bốn Tâm Vô Lượng giúp chúng ta loại bỏ bốn loại phiền não: sân giận, hận thù, ưu sầu, tham muốn.

- Tâm Từ rộng rãi thì lòng sân giận biến mất. Tâm Bi sinh khởi thì hận thù tiêu tan. Tâm Hỷ phát ra thì ưu sầu lắng xuống. Tâm Xả xuất hiện thì tham muốn không còn.

- Thực hành bốn tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả, chúng ta sẽ có một đời sống an lành ngay trong hiện tại, giúp xã hội biết yêu thương, san sẻ cho nhau trong mọi hoàn cảnh.

tbi.

4.           Kết luận

Là người con Phật, chúng ta phải luôn luôn phát triển bốn đức tính Từ, Bi, Hỷ, Xả đến vô cùng vô tận, thì mới thành tựu được Tứ Vô Lượng Tâm.

II.   LỜI KHẤN NGUYỆN

Cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn! Ngài đã ban cho con bốn cánh hoa ưu đàm thật tuyệt diệu, như bốn đóa hoa hạnh phúc hiện hữu giữa đời thường mà con hằng quên lãng. Qua đây, con hiểu được giá trị của tâm yêu thương, hòa đồng, tha thứ. Con nguyện thực hành Bốn Tâm Vô Lượng này và chia sẻ với tất cả mọi người để cùng được lợi ích.

III.           CÂU HỎI ÔN TẬP

1.     Bốn Tâm Vô Lượng là gì?

2.     Từ là gì? Thế nào là Tâm Từ Vô Lượng?

3.     Bi là gì? Thế nào là Tâm Bi Vô Lượng?

4.     Sao gọi là Hỷ? Tâm Hỷ Vô Lượng là gì?

5.     Sao gọi là Xả? Tâm Xả Vô Lượng là gì?

6.     Lợi ích của Bốn Tâm Vô Lượng?

IV. HƯƠNG VỊ CUỘC SỐNG       

SỰ TÍCH QUAN ÂM THỊ KÍNH

 Ngày xửa ngày xưa, có một người con gái nhà họ Mãng ở nước Cao Ly, tên là Thị Kính. Lớn lên, nàng tài sắc nết na lại hiếu thảo hết lòng. Khi đến tuổi lấy chồng, nàng được bố mẹ gả cho thư sinh Sùng Thiện Sĩ. Sùng Thiện Sĩ rất đẹp trai, chăm học. Hai vợ chồng thật là trai tài gái sắc ăn ở với nhau rất mực kính ái và hòa thuận. Một đêm, Thiện Sĩ ngồi đọc sách, Thị Kính ngồi may bên cạnh. Thiện Sĩ bỗng thấy mệt mỏi, bèn ngả lưng xuống giường, kê đầu lên gối vợ truyện trò rồi thiếp ngủ. Thị Kính thương chồng học mệt nên lặng yên cho chồng ngủ. Nàng ngắm nhìn khuôn mặt tuấn tú của chồng, bỗng nhận ra ở cằm chồng có một sợi râu mọc ngược. Sẵn con dao nhíp trong thúng khảo đựng đồ may, Thị Kính liền cầm lên kề vào cằm chồng định tỉa sợi râu. Bỗng Thiện Sĩ chợt tỉnh, nhìn thấy vợ cầm dao kề vào cổ mình, nghi vợ chủ trương làm hại, liền vùng dậy nắm lấy cổ tay Thị Kính la lên:

- Nàng định cầm dao giết tôi lúc tôi đang ngủ ư?

          Thị Kính đáp:

- Không phải đâu. Thấy chàng có sợi râu mọc ngược, thiếp định tỉa nó đi, kẻo trông xấu xí lắm!

Nhưng trong cơn nghi ngờ và hoảng hốt, chồng nhất định không tin. Giữa lúc đó, ông bà họ Sùng nghe tiếng cãi nhau, vội lại hỏi nguyên do. Nghe con trai kể, ông bà tin ngay, khăng khăng đổ tội cho Thị Kính toan giết chồng, rồi lập tức cho mời ông bà họ Mãng sang trách móc và trả lại con. Thị Kính không biết làm sao giải bày được nỗi lòng oan khổ của mình, nàng cắn răng chịu tủi nhục từ giã nhà họ Sùng để về nhà cha mẹ.

Về ở với cha mẹ, Thị Kính lúc nào cũng sầu phiền. Nỗi oan khổ chẳng còn biết cùng ai thổ lộ. Nàng bèn quyết tâm đi tu để trước là báo đáp ân sâu của cha mẹ, sau là tẩy rửa nỗi oan khiên. Nghĩ rằng, nếu trình thưa với cha mẹ ý định của mình thì cha mẹ không cho đi, nên đang đêm, nàng cải trang thành nam tử và trốn khỏi nhà với tấm chân thành của người tìm chân lý. Lại một lần nữa, Thị Kính bị mang tiếng đồn là bỏ nhà theo trai trong khi thật sự nàng tìm đến chùa Vân Tự tu hành.

Sư cụ chùa Vân Tự không biết là gái bèn nhận cho làm tiểu, đặt tên là Kính Tâm. Từ đó Kính Tâm nương náu cửa thiền, lòng vui với đạo nên khuây khỏa được sầu phiền. Tu hành chưa được bao lâu thì một tai vạ lại đến với Kính Tâm.

Trong làng có Thị Mầu, con gái của một phú ông, đi lễ chùa, thấy Kính Tâm thì đem lòng yêu trộm. Đã có lần Thị Mầu nói rõ lòng mình với Kính Tâm nhưng thị vô cùng thất vọng vì Kính Tâm vẫn cứ thản nhiên. Càng ngày, Thị Mầu càng say mê. Quen thói trăng hoa, Thị Mầu bèn tư thông với một người đầy tớ trong nhà, không ngờ thị mang thai và bị làng phạt vạ. Thị Mầu bèn đổ hết cho tiểu Kính Tâm. Vì thế tiểu Kính Tâm bị làng đòi đến tra khảo. Nàng không biết biện bạch ra sao để gỡ mối oan này nên đành cam chịu sự đánh đập tàn nhẫn.

 Sư cụ thấy tiểu bị đánh đòn đau, thương tình, kêu xin với làng nộp khoán. Vì sợ ô danh chốn thiền môn nên dù thương xót Kính Tâm, sư cụ cũng phải để Kính Tâm ra ở mái Tam Quan chứ không được ở trong chùa nữa. Đủ ngày tháng, Thị Mầu sanh một đứa con trai. Phú ông bắt thị đem đứa bé trả cho cha là Kính Tâm. Kính Tâm đang tụng kinh, thấy tiếng trẻ khóc, nhìn ra thì thấy Thị Mầu đ em con bỏ đó rồi đi. Động lòng từ bi, nàng ra ẵm lấy đứa bé và chăm lo nuôi nấng hết l òng.

tkinmh.

Ngày ngày nàng phải bế nó đi xin sữa ở đầu làng cuối xóm chịu bao nhiêu tiếng cười chê. Sau ba năm, đứa bé đã khôn lớn, vẻ mặt rất khôi ngô, tính nết ngoan ngoãn giống hệt cha nuôi thì cũng là lúc Kính Tâm đạt cái chí của mình sau những ngày đầy oan khổ. Bà chỉ bị yếu qua loa rồi chết. Trước khi nhắm mắt, Kính Tâm dặn đò đứa bé, bà lại viết một phong thư giao cho nó cầm để lại cho cha mẹ.

Đứa bé đang than khóc bên xác ch a nuôi thật là bi thảm, chợ t nhớ lời cha dặn, vội lên chùa trên báo cho sư cụ biết. Sư vãi được cụ sai ra khâm liệm thi hài mới hay Kính Tâm là đàn bà. Tin này tung ra, cả làng đổ đến chùa đông như hội. Nỗi oan tình của bà được tỏ và khi lá thư của bà về đến quê thì ai nấy lại đều biết bà không phải là gái giết chồng. Thiện Sĩ vội theo ông bà họ Mãng tới chùa Vân Tự làm lễ ma chay. Ai nấy đều nhận thấy rằng sự chịu đựng và nhẫn nhục của nàng từ bấy đến nay quả là cùng cực.

Giữa lúc cử hành đàn chay, một đám mây ngũ sắc, giữa trời từ từ hạ xuống trước đàn lễ. Đức Thích Ca Mâu Ni hiện ra, Ngài nhận thấy Kính Tâm là người tu hành đắc đạo nên cho bà làm Phật Quan Âm. Riêng Thiện Sĩ, thấy rõ nông nỗi vợ, sau khi chôn cất Kính Tâm xong, chàng xin ở lại chùa tu đến hết đời.

qa.


 

Thêm vào: Add to your del.icio.us del.icio.us | Digg this story Digg

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi):

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn comment


Điều chỉnh kiểu gõ: Tự động TELEX VNI Tắt

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Các bài viết khác :

  • email Gửi email tới bạn bè
  • print Phiên bản in
  • Plain text Plain text

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đánh giá bài viết này

0
avatar nhi vào lúc 02/04/2012 08:22:44