Trang chủ | Sức khỏe | Thể dục | Ngồi thiền trị bệnh

Ngồi thiền trị bệnh

Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Những triệu chứng và bệnh trạng sau đây đã được nghiên cứu và trị liệu qua ứng dụng thiền định như một phương pháp bổ sung – thay thế.

 

 

 

 

 

AIDS (Sida)

Bệnh AIDS là do vi khuẩn HIV (human immunodeficiency virus) tấn công và giết hại những tế bào hồng huyết cầu lymphocytes (CD4T) - giữ nhiệm vụ bảo vệ hệ miễn nhiễm (immune system). Loại vi khuNn này dần dà làm cho cơ thể mất khả năng kháng lại sự nhiễm trùng và vài loại ung thư. N hiều biến chứng do HIV gây ra gồm cả tử vong là do hậu quả của nhiễm trùng chứ không phải trực tiếp từ HIV. Khi số lượng tế bào CD4T giảm sút dưới mức 200 hay với những triệu chứng phát khởi rõ ràng là bệnh nhân đã thực thụ nhiễm bệnh.Vi khuNn có thể được truyền nhiễm qua máu hay dịch thể giao cấu, rồi phát triển, lây lan, phá hoại các tế bào, mà nhiều khi bệnh nhân không hề hay biết trong vòng vài tháng cho đến nhiều năm. Có chừng 40 triệu bệnh nhân niễm bệnh AIDS trên toàn cầu.

Kết qủa nghiên cứu mới đây (7/2008) tại đại học California – Los Angeles cho biết một kẻ thù khác của AIDS là sự căng thẳng bức xúc (stress) càng làm tăng tốc sự giảm sút các tế bào hữu ích CD4T. Ứng dụng thiền chánh niệm có tác dụng gia tăng số lượng tế bào này, do đó làm chậm lại hay chận đúng tiến trình bệnh AIDS.

Những bệnh nhân AIDS được chia thành 2 nhóm: nhóm tập thiền theo chương trình 8 tuần lễ MBSR của Kabat-Zinn và một nhóm khác không tập thiền để so sánh. Kết quả đạt được là bệnh nhân nhóm tập thiền trung bình tăng thêm 20 CD4T trong khi bệnh nhân nhóm kia mất đến 185 CD4T. N hững chương trình huấn luyện thiền chánh niệm cho tập thể được xem là ít tốn kém và có triển vọng trở thành một phương pháp trị liệu bổ sung – thay thế cho những bệnh nhân AIDS.

Ung Thư

Nguyên nhân của ung thư là do một nhóm tế bào bộc phát bất bình thường vươt qúa giới hạn, xâm nhập phá hủy các mô kế cận và lan truyền đến những nơi khác của cơ thể tạo thành các bướu ung thư. Bệnh ung thư ảnh hưởng mọi lứa tuổi ngay cả bào thai, nhưng thường gia tăng với tuổi tác. Chứng ung thư gây tử vong 13% trên tổng số các loại bệnh trạng khác.

Những nghiên cứu y học đã xác minh thiền định giúp giảm thiểu lo lắng, bức xúc, đau nhức, huyết áp, mất ngủ và từ đó có thể được áp dụng giúp bệnh nhân ung thư vượt qua những cơn đau, căn thẳng, hoảng sợ, v.v..cũng như tăng cường sức phòng thủ và đề kháng của hệ miễn nhiễm hầu bảo vệ cơ thể người bệnh.

Có những phương pháp trị liệu hiện đại như sử dụng các kỹ thuật đốt bằng tia phóng xạ hay qua phẫu thuật cắt bỏ phần mô ung thư, nhưng đây là loại bệnh trạng chí mạng cần được phát hiện sớm sủa và chữa trị kịp thời.

Bác sĩ tâm thần người Úc, Ainslie Meares, với những nghiên cứu riêng của mình được tường trình từ năm 1976, đã đề nghị sử dụng thiền định hoặc riêng rẽ hoặc cùng chung với các phép trị liệu khác cho các chứng ung thư. Qua đó thiền định không những làm tăng cường sức đề kháng của hệ miễn nhiễm mà quan trọng hơn cả là giảm hạ những căn thẳng từ những cơn đau cũng như những ưu phiền, lo toan, sợ hãi, số phận hNm hiu của bệnh nhân. Phép hành thiền gồm 3 yếu tố: thân an tịnh, niệm mantra và vận động nhẹ, ít nhất tập một giờ mỗi ngày. Đăc biệt tránh cho bệnh nhân sự giao tiếp qua chữ viết, âm thanh hay lời nói có tính cách lý luận hay học hỏi, hầu tránh làm nhiễu loạn tâm trí người bệnh. Ông ta tiến hành trị liệu cho 17 bệnh nhân ung thư trong giai đoạn bệnh đã phát triển khá cao hay ở giai đoạn cuối. Các bệnh nhân hoặc không hề có sự trị liệu chính thống hoặc đã nhận sự trị liệu từ thuốc hay phóng xạ vài tháng trước đó. Kết qủa cho thấy họ đã có thể sống thêm trung bình một năm, trong khi các phép trị liệu khác phải chịu bó tay và cho biết là chỉ chờ ngày chết.

Vào tháng 11 năm 1979, trên tạp chí Medicine Journal Australia, bác sĩ Mearses báo cáo về một trường hợp ung thư ruột kết (colon) của một người đàn ông 64 tuổi, một nhà tâm ly học. Ông ta không chịu giải phẫu mà thích hành thiền trung bình 3 giờ mỗi ngày. Chỉ sau 2 tuần lễ đã thấy có sự cải thiện. Sau 6 tuần thì chấm dứt sự trợ lực bôm thụt vào hậu môn – giúp lưu thông ruột kết. Sau 2 tháng không còn chứng thức giấc giữa đêm. Sau 6 tháng phân trở lại kích thước bình thường và sau 1 năm thì dứt hẳn chứng ung thư.

Phương pháp ứng dụng thiền chánh niệm trong chương trình thư giãn MBSR của Jon Kabat-Zinn đã được sử dụng khá nhiều trong nghiên cứu ung thư, trong số đó một thí nghiệm trên 90 bệnh nhân cho thấy giảm được 31% các triệu chứng căng thẳng bức xúc và 67% tính khí bất thường khi so sánh với các bệnh nhân không hành thiền.

Nhiều nghiên cứu y học về thiền định cho đến nay thường chỉ giới hạn thời gian hành thiền rất ngắn, nên không có cường độ tác dụng lớn như thời gian 3 giờ hay nhiều hơn. Một điều dễ hiểu là những bệnh nhân ung thư, tuy có nhiều thì giờ, nhưng lại không còn đủ ý chí vững mạnh, kiên nhNn và sức chịu đựng với thời gian hành thiền quá dài nếu không nhận được sự khuyến khích và chỉ bày thích đáng.

Tim Mạch

Bệnh tim bao gồm nhiều hình thức khác nhau, là bệnh gây tử vong nhiều nhất ở các nước phát triển, như ở Mỹ cứ 34 giây là có một ngươì chết về bệnh này. N guyên nhân thông thường là những mạch máu bị thu hẹp hay tắc nghẽn do chất mỡ tích tụ bên trong thành mạch, gây khó khăn cho máu lưu thông và cung cấp oxy đến tim. Các cơ thịt của tim bị thiệt hại do một nguyên nhân nào đó làm giảm sút khả năng bôm máu của tim đến các nơi khác trong hệ tuần hoàn. Khi tín hiệu nội điện (internal electrical signal) của tim bị xáo trộn làm tim không thể bôm máu một cách bình thường, nhịp tim trở nên rối loạn lúc nhanh lúc chậm gây vấn đề cho tim.

Sự bất thường của van tim là một nguyên nhân khác, 4 van tim thay nhau điều khiển lưu lượng máu vào hay rời khỏi tim. Van tim bị hẹp làm tim khó đNy máu đi và nếu van tim bi hở làm máu bị rò rỉ trở lại, không bôm hết lượng máu.

Các triệu chứng thông thường của bệnh tim là thở gấp, hồi hộp đánh trống ngực, yếu đuối, chóng mặt, mệt mỏi, buồn nôn, ra mồ hôi, cảm giác muốn ngất xỉu, vùng tim ngực bị đè ép, nặng nề, đau nhói và có khi lan ra kế cận đến lưng, quai hàm và tay.

Có 2 cuộc thử nghiệm ở Mỹ ứng dụng thiền tiên nghiệm TM vào những thập niên 1980 và 1990 cho thấy những người bị bệnh tim có thể giảm tỉ lệ tử vong xuống 30%. Bác sĩ Robert Schneider thuộc đại học Maharishi đã lên tiếng rằng đây là sự kiện phát hiện có ý nghĩa đáng kể, chứng tỏ thiền định có thể được sử dụng như một phương pháp trị liệu hữu hiệu cho bệnh tim.

Một thử nghiệm khác (3/2007) tại đại học Pennsylvania qua tập thiền TM trong 3 tháng và 6 tháng đối với bệnh nhân sung huyết tim (congestive heart failure) cũng cho thấy rõ những cải thiện về phNm chất đời sống, chứng trầm cảm, và sự giảm bớt số lần trở lại bệnh viện. Thiền định giúp giảm hạ tác động của hệ giao cảm (gây căng thẳng bức xúc) trong khi tăng cường khả năng của hệ phản giao cảm với tác dụng ngược lại.

Tương tự, tại trung tâm y khoa Cidars-Sinai, Los Angeles, Paul-Labrador hướng dẫn một thử nghiệm khác với 103 bệnh nhân vành mạch tim (coronary heart disease). Trong số này, 52 bệnh nhân tập thiền TP trong 16 tuần lễ và 51 bệnh nhân khác không tập thiền để so sánh. Trước và sau cuộc thử nghiệm, bệnh nhân được thử máu, xét lý lịch y khoa, thử chức năng mạch máu, và sự biến đổi nhịp tim. Kết qủa là những bệnh nhân tập thiền giảm hạ huyết áp rất đáng kể, cải thiện lượng đường và insulin trong máu, cũng như ổn định chức năng của hệ thần kinh tự động. N goài ra còn có những nguyên nhân phụ thuộc ảnh hưởng bệnh tim như thiếu vận động, thức ăn không lành mạnh, sự béo phì, sư căng thẳng búc xúc trong xã hôi đa tạp, tạo ra những kích thích tố có hại như cortisol và những chất tác động truyền dẫn thần kinh, rất tai hại cho hệ tim mạch. Việc hành thiền có tác dụng điều hợp hữu hiệu những căng thẳng, giảm hạ sự tiết ra các kích thích tố này. Thêm vào đó, phương pháp từ bi quán (compassion mediattion), hay trải tình thương đến những chúng sanh khác, được xem là có công năng tác động lên hệ phản giao cảm (parasympathetic) giúp tim chậm lại và gia tăng hệ số biến đổi của nhịp tim, nhờ đó tim được khỏe mạnh hơn và giảm nguy hiểm bị bệnh.

Bác sĩ Vermon Barnes cũng hướng dẫn một thử nghiệm trên 111 trẻ vị thành niên và tìm thấy những em tập theo những khóa thiền TM -15 phút có khả năng làm tăng sự mở rộng huyết quản thêm 21% trong khi những em không tâp thiền lại bị giảm đi 4%. Do đó đi đến kết luận rằng hành thiền có thể thay thế cho các liều thuốc làm giảm hạ lượng mỡ trong cơ thể.

Liên hệ đến bệnh tim có các chứng cao huyết áp và đột qụy (tai biến mạch máu não). Trung bình cứ trong 8 người là có một người bị cao huyết áp, loại bệnh âm thầm thường không có triệu chứng rõ ràng nhưng lại rất nguy hiểm, có thể dẫn đến suy tim hay đột qụi bất ngờ. Huyết áp do sức ép của máu lưu thông lên thành mạch khi tim co thắt đNy máu đi. Số đo huyết áp bình thường là 120/80. Huyết áp trên giới hạn 135-140/85-90 được xem như bắt đầu có triệu chứng cao huyết áp. Bệnh này thường do các chất kết tụ bên trong mạch máu như cholesterol làm nghẽn sự lưu thông và do đó làm tăng huyết áp.

Cũng cần kể thêm các yếu tố di truyền hay môi trường và hoàn cảnh sống dễ gây căng thẳng làm cơ thể tiết ra những kích thích tố bất lơị làm tăng huyết áp. Một trong những nghiên cứu cho thấy tập thiền TM có thể làm giảm huyết áp đến 10.7/6.4 (ví dụ 140/90 – 10.7/6.4 = 129.3/83.4).

Chứng đột qụy là do một hay nhiều mạch máu trong não bị tắc nghẽn vì các chất như cholesterol tích tụ, gây bán thân bất toại hoặc, tàn tật suốt đời hay tử vong. Những nghiên cứu và ứng dụng thiền định trong y học, nhất là cho chứng cao huyết áp, trực tiếp ảnh hưởng đến bệnh tim và đột qụi, mang lại kết quả rất hữu ích và khích lệ.

Trích Thiền định và trị liệu (Phatgiaovnn.com)

Thêm vào: Add to your del.icio.us del.icio.us | Digg this story Digg

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi):

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn comment


Điều chỉnh kiểu gõ: Tự động TELEX VNI Tắt

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Các bài viết khác :

  • email Gửi email tới bạn bè
  • print Phiên bản in
  • Plain text Plain text

Tags

Đánh giá bài viết này

5.00